






| Đức Phật sẽ xử sự làm sao? Phật pháp thực tiễn cho thời hiện đại. |
|
| Written by A.N.A |
| Sunday, 02 August 2009 21:11 |
A.N.A dịch từ Anh sang Việt Đọc bản tiếng AnhGiới thiệu quyển sách “Cây Bồ Đề nơi LA: Những mẫu truyện của một vị tu sỹ Phật giáo tại Hoa Kỳ.” do nhà xuất bản Shambala thực hiện, năm 2008. Tác giả là Hòa Thượng Walpola Piyananda. Quyển sách mới này trích dẫn bằng chứng Phật pháp thật sự rất đơn giản nhưng từ sự đơn giản này Phật pháp trở thành rất hữu dụng trong cuộc sống thường nhật. Quyển sách bao gồm 20 chương ngắn, rất dễ đọc dễ hiểu, do Ngài Piyananda đã giảng dạy và khuyến tấn Phật tử tín đồ của Ngài tại Pháp Thắng Tịnh xá (Dharma Vijaya Buddhist Vihara có trang nhà là http://www.dharmavijaya.org/), một ngôi chùa do Ngài khai lập và trụ trì trên đại lộ Crenshaw, thành phố Los Angeles, tiểu bang California. Ngài xuất gia theo trường phái Phật giáo Nam Tông (còn gọi là Nguyên Thủy – Theravada), một tông phái cổ truyền nhất của Phật giáo vẫn còn được hành trì nghiêm mật tại những quốc gia như Tích Lan (nơi sinh quán của Ngài), Thái Lan, Miến Điện, Lào, và Campuchia. Phật giáo Nguyên Thủy vẫn còn xử dụng kinh tạng bằng tiếng Pali, một trong hai cổ ngữ từ thời Đức Phật còn tại thế (tiếng Phạn – Sanskrit là cổ ngữ thứ hai). Ngài thường trích dẫn những lời kinh trong tạng Pali trong bài giảng và quyển sách của Ngài. Những lời dạy về nhiều vấn đề thực tiễn như sân hận, cờ bạc rượu chè, ganh ghét đố kỵ, sự phân biệt chủng tộc, giới luật xuất gia của chúng tăng trong đạo Phật, cả đến làm sao đối phó với sự chết chóc của chó mèo yêu quý… Những mẫu chuyện dẫn dụ trong sách không những nói lên được lòng từ bi bao la của Ngài, mà còn diễn đạt một sự thấu hiểu Phật Pháp và lịch sử Phật giáo rất sâu rộng của Ngài, cùng với khả năng áp dụng những nhận thức, quan điểm, ý tưởng, phương pháp hành trì, những mẫu truyện để diễn giải thích đáng cho mọi trường hợp mọi hoàn cảnh được nêu ra. Thí dụ như trong câu chuyện đầu tiên, một anh nhân viên bị ông boss (ông chủ) dày vò quấy rầy phiền nhiễu và không cho tăng chức (ai trong chúng ta cũng đã từng trải qua những tình huống khó khăn như thế này). Anh ta bực tức đến độ đã nghĩ tới chuyện mua khẩu súng để có dịp thanh toán ông boss của mình. Nhưng may nhờ một người bạn dẫn anh đến gặp Hòa Thượng. Ngài dạy cho anh về Bát Phong: tám pháp tỷ (điều kiện) như tám ngọn gió làm phiến động lòng người - chúng ta ai cũng có lần phải đối phó với tám pháp này: đó là lợi (lợi lộc), ai (thảm hại), hủy (nói xấu), dự (danh thơm), xưng (khen), cơ (chê), lạc (niềm vui) hay khổ (hoạn nạn). Điều đáng mừng (mà cũng là đáng sợ) là những ngọn gió này đều không tồn tại lâu dài. Hòa thượng trích dẫn Kinh Maharahulavada để thưa với anh Tom rằng: “Đức Phật dạy chúng ta phải làm sao sống như năm chất liệu trong ta (gọi là Ngũ Đại) như đất, nước, gió, lửa, và hư không. Đất không biết giận dữ cho dù bao nhiêu thứ ô uế được quăng xuống đất; nước cũng không phiền lòng vì phải rửa sạch biết bao dơ bẩn; lửa cũng thế, nó đốt cháy cả sạch lẫn dơ không một tí phàn nàn; gió thổi vào mọi thứ sạch dơ mà không than phiền; và không khí thì có mặt khắp cùng không gian chẳng trừ một chỗ nào cả. Chúng ta cần phải phát triển tâm ý để được như những nguyên tố đó: tức là cho dù thuận duyên hay nghịch cảnh có xẩy ra, nó cũng không tác động mạnh hay tràn lan xâm lấn tâm ta. Nếu chúng ta xử lý được như những yếu tố này, chúng ta sẽ giữ được sự bình tĩnh và an lạc, và không bị chi phối bởi bất cứ sự việc ngoại nhập nào.” Hòa Thượng cũng khuyên Tom thực tập Tâm Từ (metta – loving kindness), tức là trước nhất phải áp dụng từ bi với chính mình, rồi trải lòng từ này đến thân nhân gia đình người quen, sau đó đem tâm từ tới những người xa lạ chưa từng quen biết, và cuối cùng rải tình thương đến cả những người “khó ưa”, nói chung là phải mang tâm từ ban phát cho hết tất cả chúng sanh. Thế là cuối cùng anh Tom đã không đi mua khẩu súng, mọi việc ở sở làm dần dà cũng khả quan hơn với ông boss của anh, và sau cùng anh cũng được tăng chức. Trong một mẫu chuyện khác, lúc chùa của Hòa Thượng Piyananda đang tổ chức một cuộc vận động gây quỹ giúp đỡ nạn nhân Sóng thần (tsunami) năm 2004, những nạn nhân này phần đông là người Tích Lan, và In-đô-nê-xia. Có những người hiểu biết rất nông cạn và sai lầm về nghiệp quả; họ cho rằng thảm họa xẩy ra cho người dân những nước này vì cộng nghiệp xấu của cả nước. Một nhân viên cao cấp của tổ chức cho rằng khi giúp những ngư phủ bị nạn, thành viên Phật tử của chùa sẽ tạo nghiệp xấu cho chính mình vì những ngư phủ này phạm giới sát sanh giết chóc rất nhiều trong công việc làm ăn của họ. Sau một bài thuyết pháp rất cảm động với đề tài về tính cách độ lượng và khoan dung của tâm Từ Bi, Hoà Thượng đã khéo léo chỉnh sửa lối suy nghĩ sai lầm của ông ta về nghiệp báo bằng cách giảng dạy bài pháp của Phật về năm định luật thiên nhiên (Niyama) có tác động đến mọi sự việc đang xẩy ra. Thứ nhất là Định Luật Vật Lý (utu niyama) có khả năng thay đổi con người và sự vật, thí dụ như thời tiết. Thứ hai là Định Luật Sinh Lý (bija niyama) tức là mỗi chủng tử hay hạt giống sẽ sanh ra một loại cây cỏ hay một loại thú vật. Định luật này cũng rất quan trọng vì nó xác định rằng con người ta cũng chỉ từ một chủng tử loài người mà ra, tức là ai ai cũng như nhau không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp, giới tính v.v. Thứ ba là Định Luật Tác Nghiệp (kamma niyama) tức là nếu chúng ta tạo nhân nào cho dù tốt hay xấu, nghiệp lành hay nghiệp ác, rồi thì chúng ta cũng sẽ hưởng quả đó. Thứ tư là Định Luật Vạn Pháp (dhamma niyama) - luật tự nhiên này điều hành tất cả những sư kiện vật chất bao gồm cả vòng xoáy của trái đất và sự tạo tác gây nên sóng thần. Và cuối cùng là Định Luật Tâm lý (citta niyama), có công dụng điều khiển cái tâm và kết quả là “chúng ta tự tạo thế giới riêng bằng những suy nghĩ cảm tưởng của mình.” Hòa Thượng Piyananda giải thích rằng “Nghiệp lực (tiếng Pali là Kamma) chỉ là một trong năm định luật tự nhiên lúc nào cũng ảnh hưởng đến mọi sự việc, tác dụng khi cần thiết. Thế nên chúng ta phải chấp nhận rằng bất cứ kinh nghiệm cuộc sống nào của ta cũng bị tác động không những chỉ với luật nhân quả mà thôi, mà còn nhiều thế lực khác nữa.” Bài pháp đã đem đến sự hiểu biết tường tận hơn về những phức tạp và ảnh hưởng lẫn nhau của các định luật tự nhiên nói trên, và chính người đứng ra phản đối cũng thông cảm hơn cho nạn nhân của trận sóng thần này. Trong một thí dụ khác, một nữ thí chủ có chú chó bà rất thương yêu tên là Buster. Buster bị xe cán chết. Khi Hòa Thượng đến thăm bà ta, Ngài giảng cho bà nghe Kinh Salla Phật thuyết về “cuộc sống vô thường không có gì bảo đảm, hay có thể đoán trước được. Ở đây cuộc sống rất ngắn ngủi và mang nhiều khó khăn rắc rối khổ đau. Sanh rồi diệt, không ai và không có cái gì thoát khỏi hết.” Một buổi lễ cầu nguyện cho chú chó diễn ra tại chùa, nhưng bà quá đau lòng đến nổi bà không để được bức ảnh của Buster lên bàn thờ, mà ôm chặt tấm hình vào lòng và khóc ròng rã đau thương. Hòa Thượng lại ôn tồn kể cho bà nghe câu chuyện của nàng Kisa Gotami. Đứa con trai đầu lòng của nàng bị bệnh và chết đột ngột. Nàng không chấp nhận nổi sự mất mát nên hốt hoảng ôm con chạy từng nhà tìm thuốc chữa trị cứu sống đứa bé. Nghe là Đức Phật có thể cứu con nàng, nàng cung kính thành tâm đặt xác chết của con dưới chân Phật, cầu khẩn Phật làm cho đứa bé sống lại. Với tình thương và lòng từ bi bao la, Phật bảo sẽ cứu sống con trai của nàng với điều kiện nàng tìm cho Phật một nắm hột mù-tạc từ một gia đình nào mà chưa từng có ai chết. Kisa đi hỏi từng nhà, nhưng không thể tìm ra một gia đình nào không hề có người chết. Nàng mới hiểu lời Phật dạy. Và Hòa Thượng lại khuyên bà nữ thí chủ “cái chết đã để lại trong bà một tì vết sâu đậm không thể gột xóa được nhất là khi bà rất yêu thương gắn bó vói con chó này. Thầy không muốn bà phải quên đi Buster, nhưng cũng phải trở lại với cuộc sống của mình. Bà nên nghĩ đến những kỷ niệm vui với nó, nhưng cũng nên nhớ rằng không có gì tồn tại vĩnh viễn.” Cuối cùng bà ta để bức ảnh Buster lên bàn thờ, và buổi lễ được tiếp tục một cách long trọng. Một vài chủ đề khác của quyển sách được Hòa Thượng đề cập đến và chỉ dạy như sự việc người Taliban đập phá những pho tượng Phật quý giá ở Bamiyan, sự nghiện ngập rượu chè, nghi lễ cưới hỏi, thực tập thiền định, những mối quan hệ tinh thần giữa bạn bè, sinh tử luân hồi, v.v. Những vấn đề Ngài nêu ra đều có thật trong thời hiện đại này, được Ngài phân tích trong cả phạm vi lối sống hiện đại nhiều chủng tộc của người dân Los Angeles, và cả truyền thống văn học Phật giáo. Tình thương và sự quan tâm của Hòa Thượng Piyananda đối với tín đồ Phật tử của Ngài chứng tỏ rành mạch Ngài rất yêu chuộng cuộc sống tu hành đức hạnh của Ngài; Ngài đem cái truyền thống Phật giáo cổ truyền áp dụng vào những vấn đề đương thời, thực tiễn cho rất nhiều người bản xứ đang cần sự chỉ dẫn giảng dạy bao gồm đầy đủ những đức tính khiêm nhường, phong nhã, lịch duyệt nhưng cũng đầy kinh nghiệm trí tuệ hiểu biết của Ngài.
A.N.A (The Buddhist Translation Group)
October 23, 4:37 PM by Kurt Barstow, A.N.A. dịch LA Religion & Spirituality Examiner
Newer news items:
Older news items:
|
| Last Updated on Sunday, 02 August 2009 21:29 |
|
Monique Thập Phương dịch từ Pháp sang Việt Đọc bản tiếng PhápNhư một lữ More... Hits 69
|
|
Bài thơ được tổ chức UN bình chọn là bài thơ hay nhất năm 2006 Bài thơ More... Hits 121 |
|
Đọc bản tiếng AnhKhông phải ngẫu nhiên đến đời Trần phương thức niệm More... Hits 23
|
|
Author: Thích Phước Đạt Viên Minh Translated to English Read in Vietnamese It was not More... Hits 24 |